TÀI LIỆU CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG BOLIVIA

0
8
thong-tin-thuong-mai-thi-truong-bolivia

BỘ CÔNG THƯƠNG

VỤ THỊ TRƯỜNG CHÂU ÂU – CHÂU MỸ

TÀI LIỆU CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG BOLIVIA

————————

1. THÔNG TIN KHÁI QUÁT

– Tên nước: Cộng hòa Bolivia

– Thủ đô: La Paz. Quốc khánh: 6/8/1825

Các địa giới hành chính; Beni, Chuquisaca, Cochabamba, La Paz, Oruro, Pando, Potosi, Santa Cruz, Tarija

– Vị trí địa lý: Ở trung tâm lục địa Nam Mỹ (Mỹ Latinh). Có rặng An-đê, với đỉnh cao nhất trên đất Bô-li-vi-a là Sa-i-a-ma (6542 m), chia ra thành hai nhánh chạy song song với vùng đất trũng uốn nếp ở trung tâm của Bô-li-vi-a. Trong vùng này có hồ Ti-ti-ca-ca, (8. 300 km2) là hồ ở độ cao nhất thế giới. Tại các vùng đất thấp phía đông và đông-bắc có các rừng m­ưa nhiệt đới, các đồng bằng cận nhiệt đới và đồng cỏ nửa khô. Tiếp giáp với các nước Brazil, Chile, Paraguay, Uruguay. Địa hình núi đồi, cao nguyên, đồng bằng ở vùng lưu vực sông Amazona. Bolivia là nước khép kín không có đường bờ biển để có thể xây dựng bến cảng. Tuy nhiên lại có đường biên giới quốc tế trên bộ với 5 quốc gia thuộc Nam Mỹ: Braxin, Peru, Chile, Argentina, Paraquay.

Khí hậu: Vùng tây-nam, An-ti-pô-lan-nô có l­ượng m­ưa không đáng kể. Vùng đông-bắc có l­ượng m­ưa lớn. Nhiệt độ thay đổi theo độ cao. Trên các đỉnh của rặng An-đê khí hậu lạnh, nh­ưng xuống đến vùng trũng An-ti-pơ-lan-nô khí hậu mát mẻ và có gió. Vùng đông-bắc thuộc đồng bằng A-ma-đôn có khí hậu nhiệt đới.

– Dân số: 10,89 triệu người; Tỷ lệ tăng dân số: 1.5%

– Tôn giáo: Thiên chúa giáo (97%)

– Hệ thống chính trị: nhà n­ước-Theo chế độ Cộng hòa Tổng thống, chế độ lưỡng viện (từ năm 1967). Hiến pháp hiện hành gần đây nhất tháng Tám năm 1994. Có 9 khu vực hành chính trực thuộc Trung ư­ơng. Tồng thống và Phó Tổng thống đ­ược bầu theo chế độ phổ thông đầu phiếu, tuổi tối thiểu là 35, nhiệm kỳ 5 năm và không tái cử nhiệm kỳ thứ hai. Thượng nghị viện gồm 27 thành viên và Hạ nghị viện gồm 130 thành viên được bầu bằng tuyển cử phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống chỉ định các thành viên của Nội các.

– Tiền tệ: đồng Boliviano. Tỷ giá: 1 USD = 6,93 Boliviano  (T10/2017).

– Ngôn ngữ: tiếng Tây ban nha và tiếng thổ dân Quechua.

– Tỷ lệ thất nghiệp: 6,7% (năm 2017) (Nguồn : CIA World Factbook).

2. CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ, THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ CỦA BOLIVIA
  1. Thông tin chung:

Bolivia là thành viên của các tổ chức quốc tế: CAN, CD, CELAC, FAO, G-77, IADB, IAEA, IBRD, ICAO, ICC (national committees), ICCt, ICRM, IDA, IFAD, IFC, IFRCS, ILO, IMF, IMO, Interpol, IOC, IOM, IPU, ISO (correspondent), ITSO, ITU, LAES, LAIA, Mercosur (associate), MIGA, MINUSTAH, MONUSCO, NAM, OAS, OPANAL, OPCW, PCA, UN, UN Security Council (temporary), UNAMID, UNASUR, UNCTAD, UNESCO, UNIDO, Union Latina, UNMIL, UNMISS, UNOCI, UNWTO, UPU, WCO, WFTU (NGOs), WHO, WIPO, WMO, WTO.

Bolivia trải qua thời kì khó khăn khủng hoảng những năm 1980, sau đó liên tiếp tiến hành cải cách kinh tế và đạt kết quả tích cực, tăng trưởng GDP trung bình hàng năm đạt 4% vào những năm 1990. Tỷ lệ dân nghèo đã giảm dần, đời sống nhân dân được cải thiện, thu hút được đầu tư nước ngoài. Khi tổng thống MORALES AAYma de Juan Evo trúng cử đầu năm 2006, Chính phủ chủ trương tăng cường kiểm soát và quốc hữu hóa các lĩnh vực then chốt như khai khoáng, dầu khí, điện, viễn thông, vận tải, rừng. Cán cân tài chính được cải thiện những năm gần đây.

Tỷ lệ lạm phát:-1,7%[1] ( năm 2016), 8,8 (năm 2012),

Cơ cấu nền kinh tế: nông nghiệp 14%, công nghiệp 31%, dịch vụ 55%.

Xuất khẩu chiếm 25% vào GDP, nhập khẩu 32% trong GDP.

Thời gian để thành lập doanh nghiệp là 45 ngày.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là 503 triệu USD.

GDP (bình quân đầu người): 3.070 USD (năm 2016); 3000 USD (năm 2015); 2.870 USD (năm 2014);[2]

  • Quy mô GDP: 33.806 tỷ USD (năm 2016) 32 tỷ USD (năm 2015); 32.996 Tỷ USD (năm 2014).[3]
  • Tốc độ tăng trưởng GDP: 4,3%
  • Tỷ lệ thất nghiệp: 3,7%[4]
  • Truy cập internet là 2 triệu người (chiếm 20% dân số)
  • Điện thoại là 3,3 triệu thuê bao (chiếm 33% dân số)[5]
  1. Thương mại quốc tế của Bolivia

Năm 2016, tổng kim ngạch xuất khẩu là 7,08 tỷ đô.

Đối tác xuất khẩu chính: Braxin (27%), Argentina (16%), Hoa Kỳ (12%), Columbia (5,5%), Trung Quốc (5,3%), Hàn Quốc (3,8%).

Đối tác nhập khẩu chính: Trung Quốc (17%), Braxin (16%), Chi lê (11%), Hoa Kỳ (10%), Argentina (7,2%)

Bảng các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của Bolivia 2016

Tên sản phẩm Giá trị (1.000 usd)
Nhiên liệu khoáng, dầu khoáng và các sản phẩm chưng cất; chất bitum; khoáng sản 2.193.751
Quặng, xỉ và tro 1.848.049
Ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, đá quí hoặc bán quý, kim loại quý, kim loại mạ. . . 1.004.632
Chế phẩm và phụ phẩm từ công nghiệp thực phẩm; thức ăn gia súc chế biến 565.088
Mỡ và dầu động vật hoặc thực vật và các sản phẩm phân tách; chuẩn bị chất béo dễ ăn được; thú vật . . . 316.087
Thiếc và các sản phẩm bằng thiếc 295.195
Quả và quả hạch ăn được; vỏ quả cam quýt hoặc dưa 220.768
Hạt dầu và quả có dầu; các loại ngũ cốc, hạt và hoa quả khác; công nghiệp hoặc dược phẩm. . . 104.120
Ngũ cốc 91.179

Nguồn : www.trademap.org

Bảng các sản phẩm nhập khẩu chủ yếu của Bolivia năm 2016 

Tên sản phẩm Giá trị (1.000 usd)
Máy móc, thiết bị cơ khí, lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi; các linh kiện 1.318.271
Các loại xe khác không phải là toa xe lửa đường sắt hoặc xe điện và các bộ phận và phụ tùng của chúng 1.142.286
Nhiên liệu khoáng, dầu khoáng và các sản phẩm chưng cất; chất bitum; khoáng sản 767.915
Điện thoại di động và các thiết bị viễn thông 667.389
Nhựa và các sản phẩm bằng nhựa 445.370
Sắt và thép 399.978
Hóa chất 276.455
Các sản phẩm bằng sắt hoặc thép 250.519
Các loại dược phẩm. 183.980
III. QUAN HỆ KINH TẾ-THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ VỚI VIỆT NAM
  1. Quan hệ kinh tế – thương mại Việt Nam – Bolivia

Việt Nam và Bolivia thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1987. Đại sứ quán ta tại Braxin kiêm nhiệm Bolivia và Boliva hiện chưa có Đại sứ quán tại Việt Nam.

Kể từ đó đến nay, tuy kim ngạch buôn bán hai chiều giữa hai nước còn khiêm tốn nhưng có tốc độ gia tăng. Theo số liệu ghi nhận bởi trademap, năm 2014 tổng kim ngạch xuất khẩu của ta đạt 11.031 triệu USD thì cho đến năm 2015 đặt tới 29.575 triệu USD (tăng 168%) và 27.195 triệu USD năm 2016. Ở chiều ngược lại, Bolivia cũng có xu hướng gia tăng nhập khẩu nhiều các sản phẩm từ Việt Nam, từ 1.191 triệu USD năm 2014 lên 13,591 năm 2016, tăng 1041%.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thương mại hai chiều Việt Nam – Bolivia còn rất khiêm tốn đạt 25,5 triệu USD. Việt Nam nhập khẩu từ Bolivia lượng hàng hóa đạt trị giá 12.46 triệu USD, chiều ngược lại là 11,061 triệu đô. Các mặt hàng nhập khẩu vào Việt Nam từ Bolivia gồm có: phụ phẩm của công nghiệp thực phẩm, da sống và thuộc da; hạt dầu và quả có dầu; các loại ngũ cốc, hạt và hoa quả khác; công nghiệp hoặc dược phẩm; Muối; lưu huỳnh; đất và đá; vật liệu trát vữa, vôi và xi măng; Nhôm và các sản phẩm bằng nhôm; Gỗ và các sản phẩm bằng gỗ; than củi.

Bolivia là một thị trường tương đối phù hợp với trình độ và quy mô cũng như cách tiếp cận thị trường của ta bởi 75% các công ty xuất – nhập khẩu của Bolivia là vừa và nhỏ, hàng hóa sản phẩm dễ thâm nhập, cạnh tranh và có thể đi vào thị trường các nước láng giềng như Ecuador, Colombia, Peru và phía Tây rộng lớn của Brazil. Hai nước cần tập trung thúc đẩy những lĩnh vực thế mạnh của nhau như về nông nghiệp, công-nông nghiệp và khai thác mỏ; khuyến khích doanh nghiệp hai nước tăng cường tiếp xúc, tìm hiểu cơ hội đầu tư, kinh doanh và thiết lập quan hệ đối tác bạn hàng trực tiếp. Tuy nhiên hiện nay do hạn chế về thông tin và khoảng cách địa lý xa xôi, trao đổi thương mại song phương tuy đang có xu hướng gia tăng nhưng còn ở mức thấp và chủ yếu qua trung gian.

Bolivia, trái ngược với Braxin chưa sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo hộ nền sản xuất trong nước. Là một nước giàu tài nguyên khoáng sản và định hướng phát triển cơ sở hạ tầng nhằm thu hút đầu tư.

Theo số liệu ghi nhận bởi trademap, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tương mại hai chiều Việt Nam – Bolivia còn rất khiêm tốn đạt 25,5 triệu USD. Việt Nam nhập khẩu từ Bolivia lượng hàng hóa đạt trị giá 12.46 triệu USD, chiều ngược lại là 11,061 triệu đô. Các mặt hàng nhập khẩu vào Việt Nam từ Bolivia gồm có: phụ phẩm của công nghiệp thực phẩm, da sống và thuộc da; hạt dầu và quả có dầu; các loại ngũ cốc, hạt và hoa quả khác; công nghiệp hoặc dược phẩm; Muối; lưu huỳnh; đất và đá; vật liệu trát vữa, vôi và xi măng; Nhôm và các sản phẩm bằng nhôm; Gỗ và các sản phẩm bằng gỗ; than củi.

2. Bảng xuất nhập khẩu các mặt hàng chủ yếu giữa Việt Nam và Bolivia năm 2016

Việt Nam nhập khẩu từ Bolivia 

Tên sản phẩm Trị giá (1.000 usd)
Chế phẩm và phụ phẩm từ công nghiệp thực phẩm; thức ăn gia súc chế biến 12.459
Da sống (trừ lông thú) và da thuộc 942
Hạt dầu và quả có dầu; các loại ngũ cốc, hạt và hoa quả khác; công nghiệp hoặc dược phẩm. 125
Muối; lưu huỳnh; đất và đá; vật liệu trát vữa, vôi và xi măng 30
Nhôm và các sản phẩm bằng nhôm 26

 

Gỗ và các sản phẩm bằng gỗ; than củi 9

 

Việt Nam xuất khẩu sang Bolivia

 

Tên sản phẩm Trị giá (1.000 usd)
Điện thoại và linh kiện viễn thông 11.061
Giày, dép và các loại 6.905
Máy móc, thiết bị cơ khí, lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi; các bộ phận của chúng 4.062
Hàng may mặc và đồ phụ trợ quần áo, không dệt kim hoặc móc 1.084
Hàng may mặc và đồ phụ trợ quần áo, dệt kim hoặc móc 900
Cao su và các sản phẩm bằng cao su 669
Đồ chơi, trò chơi và các vật dụng thể thao; phụ tùng và phụ kiện của chúng 386
Nhựa và các sản phẩm từ nhựa 281
Đồ nội thất; giường, nệm, đệm nệm, đệm và đồ dùng nhồi tương tự; 272
Các sản phẩm bằng da; đồ yên ngựa và dây nịt; hàng du lịch, túi xách và các loại túi tương tự; 268
Thuốc lá và các chất thay thế thuốc lá đã chế tạo 244

 Tiềm năng phát triển du lịch Bolivia Hồ Titicaca nằm ở biên giới giữa Bolivia và PeruSalar de Uyunisông muối lớn nhất thế giới, nằm ở góc cực tây nam đất nước, trong khu vực Potosí. Thuộc sở hữu của hai quốc gia Bolivia và Peru, Titicaca là một hồ nước ngọt có diện tích khoảng 8.300 km vuông nằm trên độ cao 3.800 mét so với mặt nước biển. Hồ không chỉ là nơi sinh sống độc đáo của cộng đồng người dân bản địa của hai nước mà còn chứa từ nhiều câu chuyện huyền thoại từ ngàn xưa. Titicaca có 41 đảo lớn nhỏ thuộc sở hữu của hai quốc gia Peru và Bolivia. Hàng năm có triệu lượt khách ghé thăm Hồ này.

Lễ hội nổi tiếng nhất trong số nhiều lễ hội tại quốc gia này là “carnaval de Oruro”, được UNESCO tuyên bố tháng 5 năm 2001 là một trong số 19 “Kiệt tác Di sản Truyền khẩu và Phi vật thể của Nhân loại”.

  1. Quan hệ đầu tư giữa Việt Nam – Bolivia

Nhìn chung, Bolivia vẫn mở cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài. Luật đầu tư năm 2014 đảm bảo đối xử công bằng cho các công ty trong nước và nước ngoài, tuy nhiên cũng quy định rằng đầu tư công được ưu tiên đầu tư tư nhân (cả trong nước và nước ngoài) và Chính phủ Bolivia sẽ xác định những ngành nào cần đầu tư tư nhân.

Hiện chưa có tập đoàn nào của Việt Nam đầu tư vào Bolivia. Mặc dù chính phủ Bolivia thường xuyên đề cập đến việc muốn thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài mới, nhưng những việc đã làm được thì chưa tương xứng. Nhưng sự ổn định về kinh tế vĩ mô của Bolivia, nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, và vị trí chiến lược ở trung tâm của Nam Mỹ đã làm cho quốc gia này trở nên quan trọng. FDI tập trung chủ yếu vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là hydrocacbon và khai khoáng, chiếm gần 2/3 lượng FDI. Từ năm 2006, dòng chảy ròng của FDI bình quân đạt 3% GDP. Trước năm 2006 trung bình khoảng 8 phần trăm GDP.Trong nỗ lực thu hút đầu tư nhiều hơn, chính phủ đã ban hành luật đầu tư vào năm 2014, trong đó mỗi Bộ sẽ tạo ra các ưu đãi cho đầu tư theo ngành cụ thể. Điều 14 của luật đầu tư năm 2014 yêu cầu chuyển giao công nghệ từ các công ty nước ngoài hoạt động tại Bolivia cho công nhân và tổ chức Bolivia. Luật cũng quy định rằng Bolivia cần làm việc trong các văn phòng hành chính, hành chính và điều hành của các công ty nước ngoài. Ngoài ra, các công ty đầu tư vào Bolivia nên tặng thiết bị và máy móc cho các trường đại học và các trường kỹ thuật trong cùng lĩnh vực đầu tư và tiến hành các hoạt động nghiên cứu để tìm giải pháp góp phần vào phúc lợi công cộng. Điều 21 của luật đầu tư quy định rằng chính phủ có thể khuyến khích đầu tư vào một số lĩnh vực nhất định góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Luật 767 từ năm 2015 nhằm thúc đẩy đầu tư vào thăm dò và khai thác hydrocarbon. Tuy nhiên, nhiều công ty coi quy định này là sai lệch với sản xuất và không đủ để khuyến khích thăm dò mới. Năm 2016, Nghị định mới được được ban hành, giảm 12 lần mức thuế trực tiếp đối với hydrocarbon và các ưu đãi khác để khuyến khích khám phá tốt hơn.[6]
Các bước để đăng ký kinh doanh tại Bolivia là: (1) đăng ký và nhận chứng chỉ từ Fundempresa; (2) đăng ký với cơ quan Doanh thu Nội địa Bôlivia và nhận mã số thuế; (3) đăng ký và nhận giấy phép hoạt động từ chính quyền thành phố mà công ty sẽ được thành lập; (4) Nếu công ty có người lao động thì phải đăng ký với cơ quan bảo hiểm y tế quốc gia và cơ quan hưu trí quốc gia để đóng góp cho người lao động; và (5) nếu công ty có nhân viên, thì phải đăng ký với Bộ Lao động. Theo Fundempresa, quá trình này cần từ 30 đến 45 ngày kể từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Tất cả các bước được yêu cầu và không có chế độ thành lập doanh nghiệp đơn giản và hầu hết là nộp đơn trực tiếp.

  1. Nhận định và kiến nghị

Nền kinh tế đang có dấu hiệu suy giảm sau năm tăng trưởng mạnh mẽ năm ngoái. Tranh chấp biên giới với Chilê và các chính sách chuyển đổi ở Argentina và Braxin nhằm giảm sự phụ thuộc vào Bolivia. Hiện tại Braxin nhập khẩu chủ yếu nhiên liệu khoáng và dầu khoáng từ Bolivia (858 triệu đô tính đến tháng 10/2017). Tuy nhiên, Bolivia duy trì tỷ lệ dự trữ quốc tế lành mạnh và do đó có khả năng thâm hụt tài khoản vãng lai. Hơn nữa, nền kinh tế trong nước đang có dấu hiệu phục hồi: tiêu dùng cá nhân vẫn mạnh mẽ, được hỗ trợ bởi các chính sách tài khóa mở rộng, bao gồm đầu tư công.

Trong một nỗ lực để duy trì tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, và đảm bảo giảm nghèo tiếp tục được cải thiện tiếp cận với các dịch vụ cơ bản, Chính phủ Bolivia đã phê duyệt kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và quốc gia 2016-2020 vào đầu năm 2016. Với kế hoạch này, Chính phủ đặt mục tiêu duy trì tăng trưởng ở tỷ lệ trung bình 5% trong khoảng thời gian từ 2016 đến 2020, giảm tỷ lệ đói nghèo cùng cực từ 17% xuống còn 10%. Kế hoạch này bao gồm một chương trình đầu tư công cộng rộng rãi được tài trợ một phần bởi các khoản tiết kiệm tích lũy được trong thời kỳ bùng nổ kinh tế, cho vay Ngân hàng Trung ương Bolivia và tài trợ bên ngoài. Các khu vực đầu tư bao gồm cơ sở hạ tầng, thăm dò hydrocarbon, công nghiệp hóa khí tự nhiên (phân bón và chất dẻo) và phát điện năng lượng thủy điện. Kế hoạch cũng kêu gọi tăng cường hoạt động của khu vực tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Tuy có tốc độ tăng trưởng tương đối khả quan, nhưng trao đổi thương mại giữa hai nước còn nhiều hạn chế, đóng góp một phần rất nhỏ trong thương mại quốc tế của cả hai nước, chưa tương xứng với tiềm năng cũng như các điểm tương đồng bổ sung cho nhau của hai nền kinh tế. Kim ngạch thương mại hai chiều còn thấp, quan hệ đầu tư chưa thiết lập, doanh nghiệp hai nước chưa mạnh dạn tìm hiểu lẫn nhau, trao đổi để cùng hợp tác trong nhiều lĩnh vực còn nhiều tiềm năng khác như: hợp tác viễn thông, năng lượng, khoáng sản, du lịch, nông nghiệp, sản xuất thức ăn gia súc, hợp tác trong cung cấp nguyên phụ liệu cho ngành dệt may, giầy da.

Kiến nghị

– Hai bên cần tăng cường, tận dụng ưu thế cùng là thành viên của nhiều diễn đàn đa phương và các thỏa thuận thương mại quốc tế khác để cùng nhau tạo môi trường thuận lợi hơn nữa cho các hoạt động giao thương, hai nước có thể trở thành cửa ngõ của nhau trong việc đẩy mạnh trao đổi thương mại song phương và giữa hai khu vực;

– Bản sắc văn hóa đặc sắc và khác biệt, là cái nôi của các nền văn minh lớn, có nhiều thắng cảnh và di tích nổi tiếng, nên hai nước có tiềm năng và dư địa cho phát triển du lịch giữa hai nước còn rất lớn. Vì vậy, có thể xem xét đề xuất cơ chế cụ thể về ưu đãi liên quan đến thị thực du lịch cho công dân của hai nước trong thời gian tới.

nut-home-page

Nguồn: Internet.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here